Hội chứng nhẽo mi: gặp nhiều nhưng dễ bị bỏ qua 

Hội chứng nhẽo mi (( FLOPPY EYELID SYNDROME- FES) được đặc trưng bởi mi mắt phía trên dễ bị xệ do sự lỏng lẻo của bản sụn bên dưới và phản ứng viêm kết mạc nhú mãn tính thường đi kèm

Mặc dù FES đang được ghi nhận thường xuyên hơn do trình độ ngày càng cao của các bác sĩ nhưng nó vẫn thường bị bỏ qua cho đến khi nhiều phương án điều trị bảo tồn bị thất bại. Gần đây FES đã trở lại như một chủ đề được quan tâm trong các bệnh lý bề mặt nhãn cầu có liên quan đến các bệnh toàn thân, ví như chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) và bệnh giác mạc hình chóp, nếu ta quan tâm đúng mức. Tỷ lệ mắc FES trong dân số trưởng thành đã được báo cáo nằm trong khoảng từ 3,8% đến 15,8%, mặc dù nhiều người còn thấy nó thấp hơn thực tế. FES ban đầu được mô tả ở một quần thể nam giới béo phì từ 45 đến 55 tuổi. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây đã mô tả FES ở các nhóm dân số không béo phì, gồm cả phụ nữ và nam giới ở mọi lứa tuổi.

Những rối loạn kèm theo

Khó thở khi ngủ (OSA): một số nghiên cứu đã báo cáo gần như 100% bệnh nhân bị OSA bị FES, trong khi các tác giả khác đưa ra các ước tính thận trọng hơn. Bất kể là gì tất cả các tài liệu đều tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa FES và OSA. Mối liên quan này, với một tỷ suất chênh là 12,5 vẫn tồn tại ngay cả khi béo phì đã được kiểm soát và có tính tới các yếu tố gây nhiễu khác. Mặc dù tỷ lệ mắc OSA cao ở bệnh nhân FES, ước tính chỉ có khoảng 4% đến 16% bệnh nhân OSA đáp ứng các tiêu chuẩn cho FES nhưng thêm 61% biểu hiện chí ít là mi mắt quá lỏng lẻo.

Giác mạc hình chóp:  Mối liên quan giữa FES và giác mạc hình chóp đã được ghi nhận. Báo cáo lần đầu tiên trong một nghiên cứu dọc theo thời gian, cho thấy trong khoảng thời gian 10 năm, 18% bệnh nhân FES đã phát triển giác mạc hình chóp trên lâm sàng hoặc cận lâm sàng ở mắt bên họ ngủ nghiêng thường xuyên nhất.

Sau đó, các nghiên cứu bệnh chứng cũng cho thấy tỷ lệ mắc giác mạc hình chóp tăng lên đáng kể ở bệnh nhân FES, mang lại tỷ lệ chênh lệch là 19,3. Điều thú vị là giác mạc hình chóp được phát hiện có tăng lượng biến thể elastin, oxytalan. Mức độ gia tăng của biến thể này cũng được tìm thấy trong các mẫu mô mi mắt của bệnh nhân FES.

Sinh lý bệnh

Mặc dù các cơ chế cơ bản của FES còn chưa được hiểu rõ, nhưng một số thuyết hợp lý đã được đề xuất liên quan đến sự hình thành của tình trạng bệnh lý này.

Các phát hiện mô bệnh học: nhiều nghiên cứu đã cho thấy mức độ giảm của các sợi đàn hồi trưởng thành trong bản sụn và da mi mắt ở những bệnh nhân bị FES. Đây được cho là hậu quả của việc tăng protease phân giải đàn hồi ở những vùng này. Thay vì các sợi đàn hồi trưởng thành, nghịch lý là bệnh nhân FES lại tăng mức độ của một biến thể elastin cứng, oxytalan, trong mô mềm và sụn mi của họ. Sự biến đổi về rắn chắc này còn đặc trưng cho các mô chịu chấn thương cơ học tái phát, là cơ sở hỗ trợ lý thuyết ban đầu và được trích dẫn phổ biến nhất về sự phát triển của FES.

Lý thuyết cơ học: thuyết cơ học đưa ra giả thuyết rằng mí mắt dễ bị xệ cho phép tiếp xúc và tạo cơ học cho kết mạc sụn mi và bề mặt nhãn cầu. Điều này cuối cùng dẫn đến tình trạng viêm mãn tính kết mạc và các biến chứng đặc trưng khác của FES. Mô hình này được ủng hộ trong liên quan của FES với giác mạc hình chóp và OSA. Giác mạc hình chóp có liên quan tương tự với chấn thương giác mạc do dụi mắt quá mức. Do vậy, nó sẽ ngày càng phổ biến hơn như là một hội chứng gây ra bởi sang chấn cơ học trường diễn. Những người ủng hộ lý thuyết cơ học cũng chỉ ra mối liên hệ giữa FES và OSA. Bệnh nhân OSA có đặc điểm là hệ thần kinh trung ương bị suy giảm phản xạ với các kích thích độc hại trong khi ngủ và không có phản xạ định vị bản thân. Điều này đã được củng cố thêm bởi các nghiên cứu quan sát hành vi khi ngủ của bệnh nhân FES và OSA, kết quả cho thấy mắt bị ảnh hưởng thường là bên được nghiêng đến khi ngủ nhiều hơn.

Những người chỉ trích lý thuyết cơ học phản đối cách giải thích trên đối với những thay đổi của giác mạc và kết mạc. Sự hoài nghi thường nảy sinh từ các nghiên cứu chứng minh có tổn thương của giác mạc và kết mạc hai bên ngay cả trong trường hợp mắt chỉ nhẽo một bên. Những thay đổi của giác mạc là lý do đặc biệt để dẫn đến thuyết về thiếu máu cục bộ và tái tưới máu.

Thiếu máu cục bộ và tái tưới máu: thuyết về thiếu máu cục bộ cục bộ và quá trình tái tạo phỏng đoán rằng những yếu tố này là nguyên nhân gốc rễ của những thay đổi mô liên kết trong mi mắt của bệnh nhân FES. Thiếu máu cục bộ là kết quả của tư thế nằm nghiêng hoặc ngủ nghiêng cũng như tình trạng thiếu oxy không liên tục do OSA. Tái tưới máu sau đó xảy ra khi thức dậy, tạo ra stress oxy hóa và tổn thương gốc tự do. Tổn thương này được cho là gây ra những thay đổi thoái hóa ở mi mắt cũng như giác mạc, điều này sau đó sẽ giải thích mối liên quan với bệnh giác mạc hình chop.

Mặc dù lý thuyết này có thể gây tò mò nhưng các nhà phê bình bày tỏ sự hoài nghi về sự xuất hiện của chứng thiếu máu cục bộ ở một vùng mạch máu phong phú như mặt. Ngoài ra, sụn mi vốn có nhu cầu oxy thấp. Tuy nhiên, mô hình này rất phù hợp với các trường hợp FES liên quan đến OSA.

Biểu hiện lâm sàng

FES được đặc trưng bởi mí mắt lỏng lẻo theo chiều ngang có thể dễ dàng gấp lại với lực kéo sang bên tối thiểu và không có độ rắn chắc của sụn mi. Sự lật ngược thường xuyên của mi dẫn đến phản ứng kết mạc nhú mãn tính để đáp ứng với sự tiếp xúc và kích ứng. Ngoài ra, bệnh nhân có thể xuất hiện tình trạng mi chờm lên giác mạc nhiều quá hoặc sụp mi.

Kinh điển bệnh nhân biểu hiện các triệu chứng không đặc hiệu về kích ứng bề mặt mắt mãn tính như đỏ mẳt, sợ sáng và cảm giác có dị vật. Xuất tiết dạng nhầy cũng khá phổ biến. Các triệu chứng thường xuất hiện trong nhiều năm và nặng nhất vào buổi sáng khi thức dậy. Bên bị ảnh hưởng thường là bên mà bệnh nhân nằm ngủ.

Một số khó chịu khác bao gồm viêm bờ mi, quặm và lật mi, sụp mi. Sụp mi có liên quan chặt chẽ với FES và ngay lập tức cần phải nghi ngờ  trên lâm sàng khi gặp các bệnh nhân thích hợp. Một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân FES có những triệu chứng liên quan đến giác mạc, bao gồm bệnh lý giác mạc do hở mi và giác mạc hình chóp. Cuối cùng, FES có liên quan đến kiểu hình lâm phổ biến của bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể cao (BMI) cùng với OSA.

Chẩn đoán FES thường dựa trên khám lâm sàng cho thấy mi mắt dễ bị lật ra với lực kéo sang bên, cùng với viêm kết mạc nhú. Chẩn đoán lâm sàng nên được nêu ra nếu các triệu chứng đã mãn tính, tái phát hoặc kháng trị với các phác đồ thận trọng. Nghi ngờ sẽ tăng cao ở những bệnh nhân mắc các bệnh kèm theo như OSA. Những bệnh nhân bị kích ứng bề mặt mắt mãn tính nên được kiểm tra độ lỏng chặt của mi mắt, thêm các đánh giá nhãn khoa toàn diện. Những bệnh nhân được chẩn đoán mắc FES cần tiến hành điều tra thêm về các bệnh lý kèm theo. Khám tổng quát bao gồm kiểm tra đèn khe để đánh giá giác mạc hình chóp cũng như viêm kết mạc nhú. Mặc dù các khám nghiệm bổ sung là không cần thiết nhưng các phát hiện về biến dạng mi, sai lạc về vị trí mi hoặc sụp mi có thể hỗ trợ mạnh mẽ cho chẩn đoán.

Điều trị và theo dõi bệnh nhân FES

Các biện pháp bảo tồn: quản lý FES ban đầu nên tập trung vào việc thiết lập lại vị trí mi mắt thích hợp và ngăn ngừa tiếp xúc giác mạc. Các biện pháp bao gồm xử dụng các chất bôi trơn tại chỗ, ngoài ra là mang tấm che mắt hoặc kính bảo tồn độ ẩm trong khi ngủ. Dán mi cũng đã được sử dụng như một biện pháp để ngăn chặn sự lật ngược của mi.

Tuy nhiên, các liệu pháp bảo tồn cục bộ như vậy thường không có hiệu quả. Đối với những bệnh nhân mắc chứng ngưng thở khi ngủ (OSA) do tắc nghẽn đồng thời với thiết bị áp suất không khí dương liên tục (CPAP) và giảm cân có thể cải thiện đáng kể cả OSA và các triệu chứng ở mắt. Chẩn đoán OSA chính thức nên được chuyển đến bác sĩ nội khoa hoặc chuyên gia về giấc ngủ để đánh giá thêm.

Các biện pháp phẫu thuật: nếu các triệu chứng vẫn còn trơ lỳ, các biện pháp can thiệp phẫu thuật sẽ khá hiệu quả. Các phẫu thuật tập trung vào việc nhắm chặt mi trên để ngăn chặn việc mi bị lật lặp đi lặp lại. Các kỹ thuật bao gồm làm chặt theo chiều ngang thông qua thủ thuật can thiệp vào sụn mi góc ngoài, gấp sụn mi góc ngoài hoặc góc trong, cắt sụn mi toàn bộ chiều dầy. Tất cả các phương pháp phẫu thuật đã được chứng minh là cải thiện triệu chứng cũng như giảm viêm kết mạc.

Hội chứng nhẽo mi: mi trên dễ dàng bị lộn ra chỉ bằng động tác kéo căng góc ngoài nhẹ nhàng

Hội chứng nhẽo mi là nguyên nhân chưa được quan tâm nhiều của chứng khó chịu mãn tính ở mắt và có thể biểu hiện ở nhiều hình thái lâm sàng khác nhau. FES nên được xem xét ở những bệnh nhân có các triệu chứng viêm, sai lệch vị trí mi, nhão mi, không đáp ứng được các biện pháp điều trị bảo tồn. Sinh lý bệnh của FES nhắc đến sự kết hợp của chấn thương cơ học lặp đi lặp lại cùng với thiếu máu cục bộ cục bộ và tái tưới máu. FES được chẩn đoán trên lâm sàng và nghi ngờ sẽ được đổ dồn cho những bệnh nhân bị OSA, sụp mi và sa lông mi và một vài bệnh lý mắt liên quan khác. Cần cố gắng xử trí thận trọng nhưng điều trị bằng phẫu thuật thường được yêu cầu để điều trị dứt điểm. Trong số các biện pháp can thiệp phẫu thuật, thủ thuật tạo dải sụn phía ngoài sau hoặc cắt bỏ sụn hình chêm là những lựa chọn khả thi.

Bs Hoàng Cương

Theo EyeNet Magazine

1257 Go top

Hướng dẫn khai bao y tế