Chứng khó đọc: phức tạp nhưng ít liên quan đến Nhãn khoa 

Khoảng 80% người khuyết tật học tập mắc CHỨNG KHÓ ĐỌC. Các thuật ngữ "khuyết tật đọc" và "chứng khó đọc" thường được sử dụng thay thế cho nhau trong y văn

1.KHIẾM KHUYẾT TRONG HỌC TẬP: là mối quan tâm của trẻ em, các gia đình có liên quan và với công chúng. Khiếm khuyết trong học tập thường khiến trẻ em không thể phát huy hết tiềm năng của mình. Có thể khiến trẻ gặp khó khăn trong việc học nghe, nói, đọc, đánh vần, viết, suy luận, tập trung, giải quyết các vấn đề toán học và sắp xếp thông tin. Những đứa trẻ này cũng có thể gặp cản trở trong việc thành thạo các kỹ năng xã hội hoặc đi kèm với suy giảm vận động. Khó khăn trong học tập thường liên quan phức tạp với rối loạn tăng động giảm chú ý. Nếu không được điều trị, khó khăn trong học tập có thể dẫn đến thất vọng, kém tự tin và về cơ bản làm tăng nguy cơ phát triển các vấn đề tâm lý và cảm xúc. Không có khả năng đọc và hiểu là một trở ngại lớn cho việc học, có thể gây ra những hậu quả lâu dài về mặt giáo dục, xã hội và kinh tế. Tùy thuộc vào định nghĩa, có từ 5% đến 17,5% người dân Hoa Kỳ bị khuyết tật học tập với ước tính khoảng 2,6 triệu trẻ em từ 6 đến 11 tuổi bị ảnh hưởng.

2. CHỨNG KHÓ ĐỌC: Khoảng 80% người khuyết tật học tập mắc CHỨNG KHÓ ĐỌC. Các thuật ngữ "khuyết tật đọc" và "chứng khó đọc" thường được sử dụng thay thế cho nhau trong y văn. Chứng khó đọc là một chứng rối loạn đọc chủ yếu và là kết quả của sự bất thường trong xử lý văn bản. Nó được đặc trưng bởi những khó khăn với khả năng nhận dạng từ nhìn chính xác và / hoặc trôi chảy cũng như khả năng đánh vần và giải mã kém. Những khó khăn này liên quan đến các kỹ năng nhận thức khác của trẻ. Chứng khó đọc đã được xác định là có cơ sở di truyền mạnh mẽ. Các nghiên cứu liên kết di truyền gần đây đã xác định được nhiều locus mà tại đó các gen liên quan đến chứng khó đọc được mã hóa. Khoảng 40% anh chị em, con cái hoặc cha mẹ của một người bị ảnh hưởng sẽ mắc chứng khó đọc. Mặc dù chứng khó đọc thường do di truyền nhưng nó có thể tồn tại trong trường hợp không có tiền sử gia đình. Chứng khó đọc có thể nhẹ hoặc nặng, xảy ra trên khắp thế giới, dường như ảnh hưởng đến trẻ em trai nhiều hơn trẻ em gái, liên quan với mọi mức độ thông minh và có thể tồn tại suốt đời. Chứng khó đọc được xác định sớm ở một số người nhưng ở những người khác thì không cho đến sau này, khi các kỹ năng đọc và viết phức tạp hơn được yêu cầu. Những người mắc chứng khó đọc có thể rất thông minh và có thể có năng khiếu về toán học, khoa học, nghệ thuật, hoặc thậm chí trong các lĩnh vực không mong đợi như viết lách.

Chứng khó đọc nên được tách biệt với các dạng khó đọc thứ cấp khác do rối loạn thị giác hoặc thính giác, chậm phát triển trí tuệ, những thiếu sót về kinh nghiệm giảng dạy. Những khó khăn đọc sớm có thể do thiếu hụt kinh nghiệm và giáo trình gây ra. Điều quan trọng là phải xác định và giải quyết những nguyên nhân gây ra khó khăn khi gặp phải khó đọc thứ cấp.

3. LIÊN QUAN YẾU ỚT TỚI CHUYÊN NGÀNH NHÃN KHOA

Hiện tại, không có đủ bằng chứng khoa học để chứng minh cho quan điểm rằng các vấn đề về mắt hoặc thị giác tinh tế, bao gồm tập trung bất thường, chuyển động mắt giật, mắt lác(lé), rối loạn chức năng hai mắt, rối loạn chức năng vận động thị giác, khó khăn về cảm nhận thị giác hoặc khó khăn về giả thuyết một bên hoặc " Khó vượt qua đường giữa "của trường thị giác, gây ra khuyết tật học tập. Theo thống kê, trẻ em mắc chứng khó đọc hoặc các khuyết tật liên quan đến khả năng học tập có chức năng thị giác và sức khỏe mắt giống như trẻ em không mắc các chứng bệnh này. Vì các vấn đề về thị giác không làm cơ sở cho chứng khó đọc, các phương pháp được thiết kế để cải thiện chức năng thị giác bằng cách luyện tập bị đi chệch hướng. Ngoài điều trị gia tăng hội tụ, không đủ bằng chứng khoa học ủng hộ giả định liệu pháp thị lực có khả năng sửa chữa các khiếm khuyết thị giác tinh vi cũng không chứng minh các bài tập về mắt hoặc hành vi liệu pháp thị lực là phương pháp điều trị trực tiếp hoặc gián tiếp hiệu quả cho các khuyết tật học tập. Các hỗ trợ liệu pháp thị lực hầu hết thông tin là kém xác thực bởi vì nó dựa trên các giai thoại, các nghiên cứu được thiết kế kém và các nghiên cứu được kiểm soát kém hoặc không được kiểm soát. Hiện tại không có bằng chứng cho thấy trẻ em tham gia liệu pháp thị lực phản ứng nhanh hơn những đứa trẻ không tham gia. Vì vậy, bằng chứng hiện tại có chất lượng khoa học kém và không cung cấp đầy đủ bằng chứng cho thấy việc rèn luyện thị lực là một liệu pháp chính hoặc bổ trợ cần thiết. Nhiều trẻ em khó đọc thích chơi trò chơi điện tử, bao gồm cả trò chơi cầm tay, trong thời gian dài. Chơi trò chơi điện tử đòi hỏi sự tập trung, nhận thức thị giác, xử lý hình ảnh, chuyển động của mắt và sự phối hợp giữa mắt và tay. Sự hội tụ và định thị cũng cần thiết cho các trò chơi cầm tay. Do đó nếu khiếm khuyết về thị giác là nguyên nhân chính gây ra chứng khó đọc thì trẻ bị khuyết tật sẽ từ chối hoạt động đòi hỏi nhiều thị lực này, thực tế lại không phải như vậy.

Các thấu kính và kính lọc màu đã được đề xuất để điều trị các rối loạn thị giác dẫn đến biến dạng thị giác do nhạy cảm với các bước sóng ánh sáng cụ thể nhưng không thể điều trị chứng khó đọc dựa trên ngôn ngữ. Các bằng chứng không ủng hộ hiệu quả của thấu kính nhuộm màu và kính lọc nhuộm màu ở những bệnh nhân này vì những điểm yếu trong phương pháp luận và thống kê, sự khác biệt trong kỹ thuật trong các thử nghiệm và kết quả phần lớn là tiêu cực.

4. VAI TRÒ CỦA CÁC BÁC SĨ MẮT TRONG PHÁT HIỆN SỚM:

Những trẻ không qua được kiểm tra thị lực nên được giới thiệu đến bác sĩ nhãn khoa có kinh nghiệm chăm sóc trẻ em. Ngoài ra, việc kiểm tra thị lực trẻ em định kỳ được khuyến nghị cho các trẻ gặp các vấn đề như suy giảm hội tụ, suy giảm khả năng điều tiết và viễn thị đáng kể. Khi trẻ nghi ngờ có vấn đề về thị lực thì cha mẹ, bác sĩ hoặc nhà giáo dục nên được gặp bác sĩ nhãn khoa có kinh nghiệm trong việc đánh giá và điều trị trẻ em. Bởi vì số trẻ em này cũng có thể có vấn đề thị giác có thể điều trị được kèm theo hoặc góp phần vào rối loạn chức năng đọc hoặc học chính của chúng. Các tình trạng mắt có thể điều trị được có thể bao gồm lác, nhược thị, khiếm khuyết qui tụ và / hoặc tập trung, tật khúc xạ. Không làm được như vậy có thể gây ra hậu quả lâu dài do chỉ định những bệnh nhân này dùng các phương thức điều trị không chính xác.

Bác sĩ nhãn khoa phải xác định và điều trị bất kỳ khiếm khuyết thị giác đáng kể nào theo các nguyên tắc điều trị tiêu chuẩn. Lác mắt, nhược thị và các tật khúc xạ có thể cần đeo kính, gia phạt mắt, nhỏ thuốc mắt hoặc phẫu thuật cơ mắt. Suy giảm qui tụ có triệu chứng có thể được điều trị bằng các bài tập cận điểm, bài tập hội tụ lăng kính hoặc bài tập hội tụ trên máy tính. Hầu hết các bài tập này có thể được thực hiện tại nhà và liệu pháp thị lực mở rộng tại văn phòng là không cần thiết. Ngoài ra, đối với những bệnh nhân khác, có thể sử dụng kính đọc sách có lăng kính hoặc thấu kính trừ để điều trị. Điều trị chứng suy giảm hội tụ có thể làm cho việc đọc trở nên thoải mái hơn nhưng không cải thiện khả năng giải mã hoặc hiểu việc đọc. Nếu không tìm thấy rối loạn về mắt hoặc thị giác trẻ không cần đánh giá hoặc quản lý thị lực gì thêm. Bác sĩ nhãn khoa không nên chẩn khiếm  khuyết tật học tập nhưng nên cung cấp thông tin về khiếm khuyết học tập và đề đạt các nhu cầu về dịch vụ y tế, tâm lý, giáo dục hoặc các dịch vụ thích hợp khác. Ngoài ra, bác sĩ nhãn khoa nên thảo luận với cha mẹ về sự thiếu hiệu quả của liệu pháp thị lực và các "phương pháp điều trị thay thế" khác.

LỜI KHUYÊN

1. Trẻ em có dấu hiệu của khiếm khuyết học tập nên được chuyển đến càng sớm càng tốt để đánh giá giáo dục, tâm lý, tâm thần kinh và / hoặc chẩn đoán y tế.

2. Chúng cần được hỗ trợ thích hợp và các can thiệp giáo dục dựa trên bằng chứng cá nhân hóa kết hợp với các phương pháp điều trị tâm lý và y tế khi cần thiết.

3. Gia đình của các trẻ này cần nhận được thông tin về các chương trình hỗ trợ phụ huynh của y tế và chính sách công.

4. Bác sĩ nhi khoa và bác sĩ gia đình nên thực hiện khám mắt và thị lực định kỳ cho tất cả trẻ em theo chuẩn quốc gia và chuyển những trẻ không đạt yêu cầu đến các bác sĩ nhãn khoa có kinh nghiệm chăm sóc trẻ em.

5. Trẻ em bị nghi ngờ khiếm khuyết tật học tập trong đó cha mẹ cho rằng thị lực có vai trò nhất định thì đứa trẻ, các nhà giáo dục hoặc bác sĩ nên được giới thiệu đến bác sĩ nhãn khoa có kinh nghiệm chăm sóc trẻ em.

6. Bác sĩ nhãn khoa nên xác định và điều trị bất kỳ rối loạn thị giác hoặc bệnh mắt đáng kể nào đi kèm

8. Các phương pháp chẩn đoán và điều trị chứng khó đọc còn đang thiếu bằng chứng khoa học cũng như hiệu quả BAO GỒM: liệu pháp thị giác hành vi, bài tập cơ mắt, kính lọc và thấu kính có màu.

 

Bs Hoàng Cương

Tập hợp từ website của AAO

695 Go top

Hướng dẫn khai bao y tế