Chìa khoá để phòng ngừa cận thị 

Ít có khả năng bị cận thị ở trẻ em ít hoặc không được đi học nhưng khi hệ thống trường học phát triển và nhiều trẻ em được đi học nhiều hơn, tỷ lệ mắc cận thị sau 12 tuổi đi học tăng lên khoảng 20% ​- Một con số được thấy ở các hệ thống trường học phương Tây điển hình.

Giảm áp lực giáo dục

Ít có khả năng bị cận thị ở trẻ em ít hoặc không được đi học nhưng khi hệ thống trường học phát triển và nhiều trẻ em được đi học nhiều hơn, tỷ lệ mắc cận thị sau 12 tuổi đi học tăng lên khoảng 20% ​- Một con số được thấy ở các hệ thống trường học phương Tây điển hình. Trong một hệ thống trường học, trẻ em đi học nhiều năm hơn có xu hướng bị cận thị nhiều hơn và ở một cấp học nhất định, trẻ em đạt thành tích cao hơn có xu hướng mắc bệnh cận thị nhiều hơn, cũng như trẻ em theo nhiều dòng học hoặc lớp học hơn. Quan hệ nhân quả về vai trò đối với giáo dục đã được xác nhận với phân tích ngẫu nhiên Mendelian và phân tích hồi quy-gián đoạn, nhưng một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên (RCT) sẽ là phi đạo đức trong lĩnh vực này. Sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh cận thị trong thời gian đi học chủ yếu là do sự gia tăng tiếp xúc với các yếu tố rủi ro môi trường khi còn là học sinh, chứ không phải do tuổi tác gia tăng.

Tăng thời gian hoạt động ngoài trời

Trẻ em dành nhiều thời gian ở ngoài trời hơn được bảo vệ khỏi sự khởi phát của cận thị. Cơ chế đã được xác định (tăng giải phóng dopamine võng mạc do ánh sáng ngoài trời sáng hơn, với dopamine làm chậm tốc độ kéo dài trục nhãn cầu) đã được công nhận trong các nghiên cứu về Thực nghiệm cận thị ở động vật. Có một số bằng chứng cho thấy nó cũng có thể áp dụng cho con người. Khả năng tăng thời gian ở ngoài trời để làm chậm sự khởi phát của cận thị đã được chứng minh trong các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng RCTvà trong quá trình thử nghiệm trên toàn cầu. Thời gian hoạt động ngoài trời cũng ảnh hưởng đến sự tiến triển của cận thị cho dù hiện vẫn đang gây tranh cãi.

Tầm quan trọng của việc tiếp xúc với ánh sáng trong thời gian ở ngoài trời đã làm hồi sinh sự quan tâm đến điều kiện ánh sáng trong các phòng học. Một báo cáo từ Trung Quốc đã nêu những tác động phòng ngừa chính của việc tăng cường độ ánh sáng trong lớp học, tác động có hại của cường độ ánh sáng yếu trong các lớp học mẫu giáo. Nếu được xác nhận, những quan sát này đưa ra một số biện pháp can thiệp đơn giản để kiểm soát cận thị, bao gồm từ lớp học sáng tiêu chuẩn đến việc nâng cấp hệ thống ánh sáng phòng học. Cường độ ánh sáng có thể không phải là thông số quan trọng duy nhất vì gần đây có báo cáo cho rằng việc tiếp xúc nhiều với ánh sáng đỏ mức độ thấp trong một số tình huống cũng có khả năng ngăn ngừa sự tiến triển của cận thị.

Giảm tần suất và thời lượng việc sử dụng thiết bị kỹ thuật số

Một câu hỏi phổ biến được đặt ra là liệu việc sử dụng các thiết bị kỹ thuật số có làm phổ biến bệnh cận thị không. Tuy nhiên, WWW chỉ có sẵn để sử dụng công cộng vào năm 1993, máy tính bảng và điện thoại thông minh không có sẵn cho đến năm 2008 đến 2010. Vì tỷ lệ mắc bệnh cận thị đã cao sẵn đối với thanh niên vào những năm 1980 ở Đài Loan, Hồng Kông, và Singapore và vào những năm 1990 ở Trung Quốc đại lục. Thiết nghĩ thiết bị này không thể đóng một vai trò quan trọng trong việc bùng phát cận thị. Trong khi điện thoại thông minh đã trở nên phổ biến ở hầu hết thế giới, những sinh viên đầu tiên sử dụng các thiết bị này trong suốt cuộc đời sẽ hoàn thành việc học hành cho đến khoảng năm 2027.

Do đó, câu hỏi quan trọng là liệu các thiết bị kỹ thuật số có đóng một vai trò nào đó trong việc gia tăng tỷ lệ mắc bệnh gần đây hay không. Các bằng chứng hiện tại là hơi mâu thuẫn. Dữ liệu từ Hồng Kông, Trung Quốc cho thấy có rất ít sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh cận thị có thể liên quan đến việc gia tăng sử dụng các thiết bị kỹ thuật số trong 20 năm qua. Ngược lại, dữ liệu từ Đài Loan, Trung Quốc đã ghi nhận sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh gần đây có thể là do các thiết bị trên là nguyên nhân chính. Vào năm 2019, Dirani và cộng sự đã công nhận rằng thời gian sử dụng màn hình kỹ thuật số có thể trở thành yếu tố nguy cơ duy nhất có thể thay đổi được đối với bệnh cận thị, gây tăng khối lượng công việc nhìn gần và giảm thời gian ở ngoài trời. Đã có hai đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp gần đây liên quan đến vấn đề này. Nghiên cứu đầu tiên kết luận rằng không có mô hình liên kết rõ ràng. Hiển nhiên, cần phải nghiên cứu thêm.

Nếu nghiên cứu trong tương lai thiết lập mối liên hệ nhân quả rõ ràng, có vẻ như việc hạn chế sử dụng thiết bị có thể chỉ đơn giản là khiến trẻ em quay trở lại các kiểu hành vi trước đây, vốn đã khiến chúng bị cận thị. Ngoài ra, nếu thói quen dành nhiều thời gian trong nhà vẫn tồn tại, có thể cần phải thực hiện các bước tích cực để khuyến khích trẻ ra ngoài. Do đó, nếu không có các biện pháp bổ sung, việc hạn chế sử dụng thiết bị kỹ thuật số có thể ít tác động đến bệnh cận thị, mặc dù nó có thể mang lại những lợi ích xã hội khác. Đến đây ta thấy mông lung bởi có ồn ào là ánh sáng xanh trong các thiết bị kỹ thuật số gây ra cận thị và có thể là đục thể thủy tinh và thoái hóa hoàng điểm nữa. Vậy nên qui tội cho thiết bị kỹ thuật số hay ánh sáng xanh trong chúng là thủ phạm hiện hữu của việc tăng phi mã cận thị trong giới trẻ? Vẫn cần những thống kê thuyết phục hơn nữa.

 

Các mô hình can thiệp và ứng dụng lâm sàng để kiểm soát cận thị

Hiện nay có một số ứng dụng lâm sang có thể kiểm soát được sự tiến triển của bệnh cận thị. Các phương pháp tiếp cận quang học để kiểm soát sự tiến triển hiện nay bao gồm phương pháp chỉnh quang và các thiết kế kính áp tròng và kính áp tròng khử tiêu cự. Phương pháp tiếp cận dược lý duy nhất đã trở thành một phần của thực hành lâm sàng là sử dụng atropine, đặc biệt ở liều thấp. Tất cả các phương pháp này dường như có khả năng làm giảm ít nhất 50% sự tiến triển trong vài năm. Do đó, các can thiệp lâm sàng hiện nay có thể đáp ứng nhu cầu kiểm soát sự tiến triển của cận thị, dẫn đến kiểm soát cận thị số cao và cách tiến hành là thách thức then chốt.

Các can thiệp nhằm ngăn ngừa sự khởi phát của cận thị dựa trên thời gian hoạt động ngoài trời ngày càng tăng hiện đã được triển khai trên quy mô toàn hệ thống ở Đài Loan (Trung Quốc) và Singapore với một số thành công, nhưng tỷ lệ mắc cận thị vẫn ở mức cao so với tiêu chuẩn quốc tế. Ở Trung Quốc đại lục, cho đến gần đây, việc phòng chống cận thị chủ yếu dựa vào các bài tập mắt, nhưng những bài tập này vẫn chưa đủ để ngăn chặn dịch bệnh. Cách tiếp cận ở Đài Loan (Trung Quốc) và Singapore có sự khác biệt đáng kể. Ở Singapore, người ta chú trọng đến trách nhiệm của cha mẹ. Cách tiếp cận của Trung Quốc về cơ bản là dựa vào trường học và liên quan đến những thay đổi sâu rộng đối với trường học, các chương trình phụ trợ, tạo điều kiện để tăng thời gian hoạt động ngoài trời. Ngược lại, ở Nhật Bản và Hàn Quốc rất ít quan tâm chính thức dành cho việc theo dõi hoặc ngăn ngừa cận thị.

Trong thời buổi COVID còn bộn bề thì cận thị có nguy cơ bị bỏ bê, còn đầy những vấn đề ngổn ngang, tích tụ chồng chất. Chúng ta hãy chờ xem!

Bs Hoàng Cương

Tập hợp từ Asia-Pacific Journal of Ophthalmology số 11, tháng 2/2022

1264 Go top