Viêm Kết Mạc do Adeno Virus 

Viêm nhiễm bề mặt nhãn cầu do virus nhóm Adeno thuộc loại thường gặp, viêm nặng và có thể gây tai biến mù lòa. Không có thuốc đặc trị cho virus này, chỉ có điều trị bổ trợ và thực hiện các biện pháp vệ sinh nhằm ngăn chặn bệnh lan tràn. Người ta không thấy vai trò thực sự của kháng sinh tra nhỏ trong điều trị bệnh.

Phổ biến và dễ lây lan

Viêm kết mạc(VKM) hai mắt là dạng phổ biến nhất của viêm kết mạc do adeno virus gây ra. VKM biểu hiện đột ngột bằng đỏ mắt, ra gỉ mắt nhiều, thường kèm theo đau họng. Nên chẩn đoán phân biệt với: viêm kết mạc do vi khuẩn chlamydia, các chủng virus khác và cả các viêm kết mạc do dị ứng nữa. Virus rất dễ lây lan và không có phương pháp điều trị đặc hiệu. Virus nhóm adeno có 51 chủng khác nhau của virus chứa DNA mạch đôi. Tuy giống nhau về cấu trúc nhưng lại có kháng nguyên khác nhau( type huyết thanh khác nhau). Virus thuộc nhóm ổn định cao, gây bệnh trên toàn thế giới  từ  bệnh ở đường hô hấp đến ống sinh dục tiết niệu, dạ dày ruột và mắt. Nhiễm vi rus có thể tự kiềm chế nhưng cũng có khi lan tràn gây suy  đa phủ tạng trên những bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Adenovirus từ lâu đã được biết đến là nguyên nhân gây viêm kết mạc hàng đầu, tỷ lệ bệnh viêm nhiễm liên gia đình được xác đinh là khoảng 10-50%, virus lây lan qua tay nhiễm bệnh, giấy, khăn, bề bơi, thuốc và dụng cụ y tế nhiễm bẩn  cũng có thể qua giọt bắn từ mũi qua hắt hơi. Bất cứ gì mà bệnh nhân chạm vào cũng có thể là nguồn lây tiềm tàng.

Các dạng biểu hiện lâm sàng:

Có 4 dạng lâm sàng chính của viêm kết mạc do Adenovirus:

  • Viêm kết giác mạc dịch
  • Viêm kết mạc thanh quản có sốt
  • Viêm kết mạc cấp có hột, không đặc hiệu
  • Viêm kết giác mạc mạn tính

Xét nghiệm labo

Xét nghiệm labo thường không cần thiết để chẩn đoán VKM  do adenovirus, vốn chỉ dựa vào thăm khám lâm sàng. Đặc biệt với thể bệnh viêm kết mạc có hột, phản ứng hạch trước tai không chảy mủ ở mắt. Khi thực hiện xét nghiệm trong VKM do adenovirus phải thực hiện tìm vi khuẩn, chlamydia,  cũng như virus, bao gồm cả virus adeno và herpes.

Khám nghiệm khả thi là phản ứng chuỗi polymere thời gian thực ( RT-PCR) test nhanh tìm kháng nguyên, nuôi cấy virus, xác định type huyết thanh của virus và đường tăng kháng thể đặc hiệu qua thời gian. Trong đó RT- PCR được coi là test labo nhanh, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho dù nó chưa thể phổ cập trên toàn thế giới. Tại các điểm thu nhận mẫu, cho dù giá cả còn khá đất đỏ,  nhưng những xét nghiệm này giúp ta khỏi chấn đoán sai và lãng phí kháng sinh không cần thiết trong điều trị.

Điều trị

Cho đến nay vẫn chưa có phương án điều trị đặc hiệu cho VKM do adenovirus. Các thuốc được khuyên dùng hiện nay là nước mắt nhân tạo, chườm lạnh cho mắt. Kháng sinh không có vai trò gì kể cả chống nhiễm trùng phụ. Dùng kháng sinh bừa bãi có thể dẫn đến kháng thuốc, chẩn đoán nhầm nhất là khi thuốc kháng sinh có thể gây dị ứng và nhiễm độc. Các thuốc men khác đều là phương án đang gây tranh cãi. Thuốc kháng virus như Cidofovir và Ganciclovir đang được nghiên cứu xem có thể là phương án điều trị tiềm năng cho dù bằng chứng lâm sàng của thuốc còn khá hạn chế. Povidone_Iodine (PVP-I) loại tra nhỏ mắt điều trị tiềm tàng cho VKM do adenovirus. Các nghiên cứu về tác dụng  về tra nhỏ PVP-I kèm với Dexamethasone 0.1% cho thấy triệu chứng lâm sàng giảm rõ rệt, tác dụng rõ trên cả người và động vật. Một đăng tải gần đây về thử nghiệm thuốc phase 2, thử nghiệm có đối chứng đều cho thấy lợi ích của kết hợp PVP-I và Dexamethasone trong việc giảm thời gian biểu hiện lâm sàng và diệt trừ virus, cho dù chưa phải là sản phẩm thương mại và tác dụng phụ của steroid còn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Ngoài việc dùng thuốc kháng virus thì tra nhỏ steroide vẫn đang còn gây tranh cãi. Cho dù nó làm lui giảm triệu chứng nhưng cũng khiến virus lan tràn và thời virus ở dạng  hoạt tính sẽ kéo dài, tới tận 12 ngày, đồng nghĩa với việc bệnh nhân chịu viêm nhiễm lâu hơn. Về khía cạnh y tế công cộng cũng là làm virus tuần hoàn trong quần thể và môi trường lâu hơn. Nếu ở thể viêm giác mạc dưới biểu mô, tra nhỏ steroid làm tiêu biến các đốm viêm dưới biểu mô, gia tăng thị lực. Nhưng khi dừng thuốc bệnh lại thường tái phát, đôi khi chỉ là nhanh hay chậm mà thôi. Cũng không nên quên tác dụng phụ của tra nhỏ steroid là đục thể thủy tinh và tăng nhãn áp. Tuy nhiên điều trị tra nhỏ cortisol tỏ ra hợp lý khi bệnh nhân có giả mạc và màng thực sự, thuốc sẽ làm giảm khả năng hình thành các cầu dính kết mạc. Thêm nữa bệnh nhân có viêm dưới biểu mô dạng đốm chỉ có thể trông chờ vào thuốc tra nhỏ steroid mà thôi để  tăng thị lực, quay về lao động bình thường. Những bệnh nhân này nên có lịch khám lại theo dõi biến chứng, được cảnh bảo đầy đủ về tai biến cũng như khả năng tái phát của bệnh khi dừng tra nhỏ steroid.

Bs Hoàng Cương dịch

Nguồn: Tạp chí Touch Ophthalmology( Jeremy Hoffman, Clinical Research Fellow: International Centre for Eye Health, London School of Hygiene & Tropical Medicine, UK)

678 Go top