Giảm thị lực người già 

Giảm thị lực ở người già , có thể phòng ngừa ? Sinh-lão-bệnh-tử là chu trình khép kín của tự nhiên. Hai giai đoạn sau: sự lão hoá và cái chết xem chừng thật chua xót và khó chấp nhận. Chúng ta ngày càng có tuổi thọ cao hơn, đó là một thực tế đáng mừng. Còn cái chết, như ai đó đã từng nói: cái chết là cần thiết để cuộc sống mãi mãi trường tồn. Vượt qua sự sợ hãi, khi ngẫm nghĩ cho thấu đáo, hẳn tôi và các bạn cũng đồng ý với quan niệm rất “ biện chứng” trên.

Bs. Hoàng Cương - Bệnh viện Mắt TƯ

Giảm thị lực ở người già , có thể phòng ngừa ?

Sinh-lão-bệnh-tử là chu trình khép kín của tự nhiên. Hai giai đoạn sau: sự lão hoá và cái chết xem chừng thật chua xót và khó chấp nhận. Chúng ta ngày càng có tuổi thọ cao hơn, đó là một thực tế đáng mừng. Còn cái chết, như ai đó đã từng nói: cái chết là cần thiết để cuộc sống mãi mãi trường tồn. Vượt qua sự sợ hãi, khi ngẫm nghĩ cho thấu đáo, hẳn tôi và các bạn cũng đồng ý với quan niệm rất “ biện chứng” trên.


Cuộc sống là có giới hạn, do vậy việc kéo dài tuổi thọ cùng với nâng cao chất lượng cuộc sống luôn là ước vọng bao đời nay của con người. Trong công cuộc chống lại quá trình lão hoá, chống lại cái chết trái với tự nhiên ngành y- sinh học là đội quân tiên phong. Hiển nhiên là chúng ta đã gặt hái được nhiều thành tựu trong đó không thể không nhắc tới những tiến bộ của ngành nhãn khoa trong việc chống lại chứng lão hoá về thị giác.

Y học dự phòng cùng với mọi nguồn lực của xã hội sẽ làm giảm bớt tỷ lệ mù loà. Cho dù việc dự phòng chỉ là một giải pháp y học mà trên thực tế việc thực hiện còn vô số rào cản. Trong những điều kiện nhất định thì những cá thể có nguy cơ bị bệnh khá dễ dàng để xác định. Nếu việc xác định cần phải làm test sàng lọc trong nhân dân thì test đó nên dễ làm , chính xác và đáng tin cậy. Các biện pháp dự phòng nhất thiết phải hữu hiệu và được xã hội chấp nhận. Trong chuyên ngành mắt thì y học dự phòng sẽ rất hiệu quả trong việc phòng ngừa các bệnh mắt do chấn thương, do nhiễm trùng, do di truyền và bệnh mắt có liên quan đến bệnh toàn thân. Có quá nhiều luận điểm cùng với những biện pháp tương ứng trong việc dự phòng cho mỗi nhóm nguyên nhân gây mù loà. Xin chỉ được nêu ra những khuyến cáo chính cho những bệnh gây mù loà chủ yếu cho người già và là những bệnh có thể điều trị được.

Đục thể thuỷ tinh được nhắc tới đầu tiên bởi vì có tới khoảng 25- 50 triệu người có thị lực < 1/20 là do căn bệnh này. Tỷ lệ bệnh tăng tương ứng với tuổi: ở tuổi 65 đến 74 tuổi là 18% và tới 45,9% ở tuổi từ 75 đến 84.

Bệnh khá dễ dàng để sàng lọc trong cộng đồng. Do vậy việc theo dõi , điều trị phẫu thuật là rất khả thi và sẽ giảm bớt gánh nặng mù loà cho xã hội.

Glôcôm , nhất là glôcôm góc mở vẫn là một nguyên nhân hàng đầu gây mù loà trên phạm vi toàn cầu . Có khoảng 2 triệu người Mỹ bị căn bệnh này trong khi đó chỉ có phân nửa đến khám và điều trị tại các cơ sở nhãn khoa. Tỷ lệôcôm góc mở nguyên phát tăng từ 0,1 % ở tuổi 40-49 lên tới 3% ở tuổi trên 70. Việc phát hiện bệnh khá phức tạp bởi vì thực hiện thăm khám nhãn áp, thị trường không thể thực hiện rộng rãi trong cộng đồng. Hơn nữa triệu chứng bệnh lại rất lu mờ nhất là thể bệnh nhãn áp không cao. Điều này dẫn tới có một tỷ lệ bệnh nhân đáng kể không được phát hiện bệnh và điều trị sớm, tỷ lệ mù loà do bệnh vẫn còn cao. Công cụ hữu ích của y tế dự phòng là thăm khám nhãn áp và đáng giá gai thị 3 năm một lần, những trường hợp nghi ngờ có thể tăng lên một năm/ một lần. Đó là tổn thương vùng võng mạc trung tâm- vùng hoàng điểm, do vậy ảnh hưởng xấu tới thị lực trung tâm và việc nhìn chi tiết sự vật.

Thoái hoá hoàng điểm người già là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà cho lứa tuổi trên 50 ở các nước công nghiệp phát triển. Tất cả những bệnh nhân có tuổi , mất thị lực trung tâm , nhìn hình thấy xoắn vặn hoặc có ám điểm cần được khám xét và chụp mạch ngay. Điều trị bằng laser có thể được chỉ định cho thể thoái hoá dạng ướt.

Rõ ràng là việc tầm soát và phát hiện sớm, điều trị sớm có ý nghĩa lớn lao trong việc phòng ngừa mù loà do lão hoá sớm các bộ phận trong cơ quan thị giác. Trước đó nữa người ta cũng không thể không bàn đến vai trò của dinh dưỡng, lối sống và môi trường đối với tỷ lệ mắc các bệnh trên.

Hút thuốc , uống rượu đều làm giảm ngưỡng nồng độ các enzyme chống oxi hoá tại võng mạc . Các enzyme này có tác dụng bảo vệ võng mạc trước các tác nhân oxi hoá, nhất là khi mắt phơi nhiễm trước ánh sáng mặt trời. Phơi nắng quá nhiều đều không tốt cho cả thể thuỷ tinh và võng mạc.

Ngoài các yếu tố độc hại trên thì các stress oxi hoá được qui kết là tham gia vào quá trình bệnh sinh gây đục thể thuỷ tinh và thoái hoá hoàng điểm người già( THHDNG). Để cổ vũ cho quan điểm phòng ngừa tác hại của gốc tự do đối với cơ thể nói chung và mắt nói riêng các hãng dược phẩm đã cho ra đời các viên vitamin tổ hợp có chứa vitamin A, C, E đã được biết đến từ lâu do tác dụng chống oxi hoá mạnh. Ngoài ra còn có dạng viên chứa vitamin A-E-C kèm theo các yếu tố đồng enzyme chống oxi hoá như selen, đồng, kẽm cũng rất sẵn có trên thị trường. Các thuốc này được chỉ định rộng rãi cho những người có nguy cơ cao đối với đục thể thuỷ tinh và THHDNG đó là cơ địa vữa xơ động mạch, cao huyết áp , rối loạn mỡ máu, những người nghiện thuốc lá và rượu. Người lành cũng có thể dùng thuốc có cân nhắc và không thường xuyên để phòng bệnh và nâng cao sức khoẻ.

 

404 Go top

Hội nghị nhãn khoa toàn quốc 2017